Nhận biết u xơ tử cung

U xơ tử cung (UXTC) là những khối u nhỏ lành tính phát triển và thành hình từ lớp cơ của tử cung. UXTC có thể có một hay nhiều u, đường kính thay đổi từ vài milimét đến vài chục milimét. Đây là một loại u lành tính và thường không phát triển thành ung thư. Tuy nhiên, nếu phát hiện muộn, UXTC có thể gây ra những biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe.

Biểu hiện bệnh lý của UXTC

UXTC có thể nằm ở phần thân tử cung (96%), eo tử cung (1%), cổ tử cung (3%), cũng có thể nằm trong bề dày lớp cơ tử cung, nằm dưới lớp niêm mạc của buồng tử cung, có thể có cuống, làm cho khối u xơ giống như một dạng polyp thòng vào trong lòng tử cung. Khi khối u xơ nhỏ, người phụ nữ hoàn toàn không có bất cứ triệu chứng bệnh lý nào. Tuy nhiên, 60% trong các trường hợp UXTC có triệu chứng chính là rối loạn kinh nguyệt; rong kinh kéo dài; chảy máu bất thường. Sự phát triển của khối u chịu ảnh hưởng của nội tiết tố estrogen, khi lượng estrogen tăng cao sẽ làm cho khối u phát triển to lên. Tùy theo độ lớn và vị trí của khối u gây áp lực lên thành tử cung, chèn ép lên các cơ quan của cơ thể gây ra những biểu hiện như: đau tức vùng hạ vị hoặc hố chậu, đau nhiều hơn trước hoặc trong khi hành kinh; đau tức vùng bụng dưới trong và sau khi giao hợp; bụng to ra trông như người đang mang thai khi khối u to, chèn lên dạ dày; Rối loạn tiểu tiện (bí tiểu, tiểu tiện nhiều lần, tiểu rắt, tiểu són) khi khối u chèn vào bàng quang, chèn vào niệu quản làm ứ đọng nước tiểu và gây táo bón khi khối u chứng chèn vào trực tràng…

U xơ tử cung có thể gây ra nhiều biến chứng.

Nguyên nhân gây UXTC

Vì sao phụ nữ bị UXTC hiện nay vẫn chưa rõ, song nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nguyên nhân phát sinh UXTC là do nồng độ estrogen trong cơ thể tiết ra nhiều và hoạt động mạnh dẫn đến tăng sinh tổ chức cơ và niêm mạc tử cung. Chính vì vậy, khối u xơ có thể nhỏ lại và teo mất đi khi người phụ nữ đã mãn kinh. Một số tài liệu thì cho rằng UXTC liên quan đến sức khỏe sinh sản: sẩy thai nhiều lần, hiếm muộn, vô sinh, phụ nữ sinh đẻ ít có nguy cơ gây UXTC. Tuy vậy, bệnh vẫn gặp ở những phụ nữ đẻ nhiều con. Một số trường hợp đang mang thai nếu bị UXTC có thể dẫn đến một số nguy cơ như ngôi thai bất thường, sinh non, nhau thai bám ở vị trí bất thường (nhau tiền đạo, nhau cài răng lược…). Có thể thấy UXTC ảnh hưởng đến thiên chức làm mẹ, sức khỏe và chất lượng sống của phụ nữ. UXTC thường được phát hiện khi đi khám bệnh định kỳ. Bạn cũng có thể tự kiểm tra và phát hiện UXTC khi nằm ở tư thế ngửa, sờ thấy khối u nổi lên dưới lớp da bụng, nếu day nhẹ có cảm giác đau để phòng biến chứng và được điều trị nếu biết tầm soát sớm.

Phương pháp điều trị

Tùy thuộc vào vị trí, số lượng, kích thước và mức độ phát triển của khối u. Trường hợp UXTC nhỏ, tiến triển chậm, không biểu lộ triệu chứng, chưa gây biến chứng, phụ nữ trong độ tuổi mãn kinh… Có khoảng 1/3 số trường hợp UXTC không triệu chứng ở quanh tuổi 40 sẽ đi vào thời kỳ mãn kinh và từ đó UXTC sẽ không phát triển nữa. Do vậy, bác sĩ có thể không can thiệp bằng phẫu thuật, bệnh nhân được theo dõi, tái khám, điều trị nội khoa. Dùng thuốc để kích thích làm teo khối u hoặc sử dụng kỹ thuật xoắn để néo chân u xơ rồi đưa u xơ ra ngoài từ cổ tử cung.

Nếu điều trị nội khoa không hiệu quả, khối u trong tử cung phát triển to, chèn ép các cơ quan lân cận, gây ra những biến chứng nghiêm trọng, cần điều trị ngoại khoa bằng phương pháp phẫu thuật. Bóc tách nhân xơ bảo tồn tử cung hoặc có khi cắt một phần hay toàn phần tử cung để loại bỏ hoàn toàn UXTC hoặc điều trị bằng phương pháp gây tắc động mạch nuôi khối u.

ThS. Lê Thị Hương

Bệnh Rubella

Bệnh Rubella còn có tên là bệnh Rubêôn, do virut RNA thuộc nhóm Togavirus gây ra, còn gọi là bệnh sởi Đức. Rubella có đặc điểm là hay gây thành dịch và phát ban giống sởi. Mặc dù là bệnh lành tính, nhưng lại nguy hiểm cho phụ nữ có thai nhất là vào 3 tháng đầu vì gây ra các dị tật bẩm sinh cho thai nhi.

Virut Rubella được phân lập từ năm 1962, bệnh lây qua đường hô hấp, hay xảy ra dịch vào mùa xuân và đầu mùa hạ. Bệnh ít gặp ở trẻ dưới 5 tuổi nhưng lại hay gặp ở lứa tuổi thanh thiếu niên.

Những biểu hiện lâm sàng của bệnh

 Đục nhân mắt - một biến chứng của Rubella khi mang thai.
Sau khi virut vào cơ thể độ 2-3 tuần lễ, bệnh nhân hoàn toàn bình thường. Tiếp theo có 3 triệu chứng chính là sốt, phát ban và nổi hạch.

Sốt: Đau đầu, mệt mỏi thường xuất hiện 1- 4 ngày, sau khi phát ban thì sốt giảm. Sốt nhẹ 38,5oC.

Nổi hạch: Ở vùng xương chẩm, khuỷu tay, bẹn, cổ, sờ hơi đau. Hạch thường nổi trước phát ban, tồn tại vài ngày sau khi ban bay hết.

Phát ban: là dấu hiệu làm người ta để ý tới. Ban mọc lúc đầu ở trên đầu, mặt, rồi mọc khắp toàn thân, thường không tuần tự như sởi. Nốt ban có hình tròn hay bầu dục, đường kính chừng khoảng 1-2mm, các nốt có thể hợp thành từng mảng hay đứng riêng rẽ. Trong vòng 24 giờ ban mọc khắp người, chỉ sau 2-3 ngày là bay hết. Cần phân biệt với ban của sởi: Ban sởi sờ mịn, mọc thứ tự từ trên đầu, mặt xuống, sau khi bay để lại các vảy như phấn rôm, trên da có các vằn màu sẫm.

Đau khớp hoặc đau khắp mình mẩy, hay gặp ở phụ nữ. Các khớp ngón tay, cổ tay, gối, cổ chân đau trong khi phát ban, sau đó không để lại di chứng.

Các thể lâm sàng

Rubella bẩm sinh: Virut từ máu mẹ qua nhau thai. Trẻ sơ sinh khi đẻ ra đã có ban, hoặc trong vòng 48 giờ sau sinh. Bệnh nhi có gan to, lách to, vàng da.

Thể xuất huyết do giảm tiểu cầu: Chiếm tỷ lệ 1/3.000 ca. Xuất hiện xuất huyết vào 1-2 tuần sau khi phát ban. Có thể chảy máu cam, xuất huyết tiêu hóa, trẻ sơ sinh có thể chảy máu rốn.

Phụ nữ có thai bị Rubella

 Virus RNA gây bệnh Rubella.

Thường người mẹ không có triệu chứng, điều đáng quan tâm nhất là những dị tật của thai nhi trong bụng mẹ.

Trong 3 tháng đầu: 70%-100% trẻ đẻ ra bị Rubella bẩm sinh và 25% trẻ bị dị tật bẩm sinh ở các cơ quan tim, mắt, não.

Sau 3 tháng: Nếu mẹ có thai được 13-16 tuần, thì trẻ bị Rubella bẩm sinh với tỷ lệ 17%. Khi thai được 17- 20 tuần, thì tỷ lệ 5%. Và khi thai hơn 20 tuần, tỷ lệ đó bằng 0%.

Các biến chứng dị tật của thai nhi: Khi bà mẹ mang thai 3 tháng đầu bị bệnh Rubella thì dễ bị sảy thai hoặc thai chết lưu trong tử cung; nếu đẻ được thì thai thiếu cân, chậm lớn, chậm mọc răng và kèm theo các dị tật bẩm sinh như đục nhân mắt (một hoặc hai bên); đục giác mạc; tim tiên thiên lỗ thông vách tim, còn ống động mạch, hẹp eo động mạch phổi; trẻ còn có thể bị câm, điếc, chậm phát triển trí tuệ.

Điều trị: Cần điều trị triệu chứng như giảm đau, hạ nhiệt. Giữ ấm, tránh gió, kiêng nước trong thời gian phát ban, đề phòng bội nhiễm viêm đường hô hấp. Ăn uống đủ chất dinh dưỡng để nâng cao sức đề kháng. Tăng cường ăn hoa quả như cam, chanh và các vitamin.

Phòng bệnh: Hai biện pháp chính của phòng bệnh là cách ly và tiêm phòng bằng vaccin. Tiêm phòng vaccin Rubella giảm độc lực, được ứng dụng từ năm 1969 tạo nên miễn dịch ít nhất là 16 năm, hoặc có thể cả đời. Vì vậy nên tiêm phòng Rubella rộng rãi cho trẻ từ 12-24 tháng tuổi. Đối với phụ nữ đang ở tuổi sinh đẻ, khi tiêm phòng, phải sử dụng các biện pháp tránh thai hữu hiệu trong 3 tháng liên tục, gồm 1 tháng trước khi chủng và 2 tháng sau khi chủng. Việc cách ly là rất khó, phải cách ly 8-10 ngày sau khi ban bay hết. Nhưng có ý kiến nên để cho trẻ mắc bệnh, vì Rubella là bệnh lành tính và sau khi khỏi, người bệnh có miễn dịch bền vững.

TS.Đào Kỳ Hưng

(TS. Đào Kỳ Hưng)

Tai sao có hiện tượng thai ngoài tử cung?

BS. Lưu Quốc Khả

Thai ngoài tử cung (TNTC) là hiện tượng trứng được thụ tinh nhưng làm tổ ở ngoài buồng tử cung và sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, thậm chí sẽ đe dọa đến tính mạng người mẹ nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời.

Tại sao có hiện tượng TNTC

Thông thường, trứng sau khi thụ tinh ở một phần ba ngoài của vòi trứng thì di chuyển vào buồng tử cung và làm tổ ở đó. Quá trình thai phát triển, buồng tử cung cũng phát triển để đủ chứa thai, bánh nhau và nước ối ở trong đó (ở thời kỳ thai đủ tháng, các sợi cơ tử cung đã phát triển, tăng chiều dài tới 40 lần so với khi không có thai). Nhưng vì một lý do nào đó, trứng sau khi được thụ tinh lại không di chuyển đến buồng tử cung để làm tổ mà lại dừng lại ở một nơi nào đó ngoài buồng tử cung (ở vòi trứng, ở buồng trứng hay trong ổ bụng…) và điều này sẽ dẫn đến TNTC.

 Quá trình vào tử cung của trứng sau khi thụ tinh.

Trong khi các sợi cơ tử cung có thể dài ra tới 40 lần để đáp ứng tình trạng mang thai của buồng tử cung thì buồng trứng và vòi trứng lại không lớn lên như vậy được. Vòi trứng dài khoảng 10cm, trong lòng vòi có chỗ hẹp dưới 1mm, khi trứng làm tổ ở đó và lớn lên sẽ làm vỡ vòi trứng gây chảy máu vào ổ bụng, đe dọa tính mạng người mẹ (khi trứng làm tổ ở buồng trứng cũng gây tình trạng như vậy).

Nguyên nhân dẫn đến TNTC

Người ta thấy: viêm nhiễm đường sinh dục, dị dạng đường sinh dục, các khối u buồng trứng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ TNTC.

Khi âm đạo và buồng tử cung bị viêm nhiễm (có thể do bệnh lây truyền qua đường tình dục, do thực hiện các thủ thuật như nạo hút thai không đúng quy cách, bơm hơi, bơm kháng sinh vào buồng tử cung…), vòi trứng cũng bị viêm làm tổn thương lớp niêm mạc và làm hẹp lòng vòi trứng lại và trứng sẽ khó khăn khi di chuyển về buồng tử cung, hoặc do rối loạn nhu động của vòi trứng nên trứng không những không di chuyển về buồng tử cung mà lại rơi vào bề mặt buồng trứng hoặc rơi vào ổ bụng và làm tổ ở đó.

Các khối u buồng trứng cũng có thể gây nên TNTC do khối u làm vòi trứng căng ra, hẹp lại và hạn chế nhu động nên trứng cũng khó di chuyển về buồng tử cung được.

Hậu quả của TNTC

Trước hết, TNTC khi bị vỡ sẽ gây chảy máu trong ổ bụng và tùy tình trạng của thương tổn cũng như thái độ xử trí của thầy thuốc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người bệnh. Có những trường hợp bệnh nhân đến muộn, đã có choáng, khi phẫu thuật đã phải truyền tới 2-3 lít máu mới cứu được người bệnh. Trong nhiều trường hợp được chẩn đoán sớm (khi chưa rõ), nếu tiến hành phẫu thuật nội soi cho bệnh nhân, kết quả bệnh nhân không bị mất máu, sức khỏe chóng hồi phục và trong nhiều trường hợp vòi trứng cũng được bảo tồn. Tuy vậy, khi đã có phẫu thuật điều trị TNTC thì khả năng có con của người mẹ sau này ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng.

Làm thế nào để hạn chế TNTC

Như trên chúng ta đã biết, viêm nhiễm đường sinh dục có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ bệnh lý TNTC. Vì vậy, để góp phần hạn chế tai biến này các bạn cần lưu ý:

Thực hiện nếp sống lành mạnh, chung thủy một vợ một chồng.

Tránh sinh hoạt tình dục bừa bãi, tốt nhất là dùng bao cao su khi giao hợp nếu không muốn có thai.

Hạn chế nạo phá thai. Khi phải nạo hút thai hoặc làm thủ thuật gì đó ở đường sinh dục dưới nên đến các cơ sở chuyên khoa, ở đó có những thầy thuốc có trình độ chuyên khoa sâu, cùng với những trang thiết bị đảm bảo, các yếu tố kỹ thuật, vô trùng, nó sẽ giúp bạn hạn chế được tình trạng viêm nhiễm đường sinh dục sau này.

(BS. Lưu Quốc Khả)

Chủ động ngừa thai để tránh những cái kết buồn!

Thống kê từ Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Hùng Vương TP.HCM - hai bệnh viện phụ sản lớn nhất khu vực phía Nam cho thấy, số lượng phụ nữ đến nạo phá thai những năm qua gần như không giảm. Năm 2015, Bệnh viện Từ Dũ tiếp nhận 28.692 ca phá thai, riêng sáu tháng đầu năm 2016, trung bình mỗi tháng có gần 2.400 ca đến bỏ thai, con số này tại Bệnh viện Hùng Vương là 1.200 ca.

Đau lòng những cái kết từ nạo phá thai

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam là nước có tỉ lệ phá thai cao nhất châu Á và là một trong 5 nước có tỉ lệ phá thai cao nhất trên thế giới. GS.BS.Nguyễn Thị Ngọc Phượng, nguyên Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, Phó chủ tịch Hội phụ sản Việt Nam, Chủ tịch Hội Nội tiết Sinh sản và Vô sinh TP.HCM, cảm thán: “Buồn quá là buồn!”.

Chia sẻ tại buổi tọa đàm mới đây dành cho báo giới đề tài “Giúp phụ nữ tiếp cận với phương pháp ngừa thai hiện đại” do Báo Phụ nữ TP.HCM và Bayer Việt Nam phối hợp tổ chức nhân chuỗi hoạt động hưởng ứng Ngày ngừa thai thế giới, GS.BS. Nguyễn Thị Ngọc Phượng, cho biết: “Đáng báo động có tới 20% người nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên. Tổng tỉ suất phá thai là 2,5 - nghĩa là trung bình mỗi phụ nữ Việt Nam đã phải trải qua 2,5 lần phá thai trong cuộc đời sinh nở của mình. Đặc biệt, cứ 1 trong 4 ca phá thai là phá thai không an toàn, gây tàn tật tạm thời hoặc lâu dài do các biến chứng. Phá thai không an toàn gây ra: 13% tử vong mẹ, và 20% gánh nặng nói chung do tử vong mẹ và tàn tật lâu dài”.

GS.BS Nguyen Thi Ngoc Phuong

GS.BS. Nguyễn Thị Ngọc Phượng nói rõ:

Điều quan trọng là từng chị em trong độ tuổi sinh sản cần chủ động tìm kiếm thông tin đáng tin cậy về các biện pháp ngừa thai hiện có, tư vấn với các bác sĩ, cán bộ y tế để lựa chọn biện pháp tránh thai phù hợp nhất cho mình”.

GS. Ngọc Phượng kể vừa khám cho một trường hợp bị dính buồng tử cung do nạo phá thai khi còn quá trẻ. Đó là một phụ nữ sinh năm 1983 nhưng trước đó đã 4 lần nạo thai, nay không thể có con được dù các bác sĩ đã cố gắng bằng nhiều cách như: nội soi đặt vòng chống dính, mổ tách dính… nhưng buồng tử cung và 2 vòi trứng vẫn dính chặt và có lẽ chỉ còn cách duy nhất là tìm người mang thai hộ. Có những trường hợp còn bi thảm hơn khi chị em vì mặc cảm mà đi phá thai “chui” ở những cơ sở không phép dẫn đến nhiễm trùng hoặc thủng tử cung, có khi may mắn còn giữ được sinh mạng nhưng nhiều trường hợp tử vong trong đau đớn. GS. Ngọc Phượng nhớ lại một trường hợp khi cô còn làm ở BV. Từ Dũ, một cô gái mới 18 tuổi có người yêu sắp đám cưới nhưng có thai, cả hai sợ quá đi phá tại nhà bà “mụ vườn”. Kết quả là cô gái được chuyển vào BV. Từ Dũ trong tình trạng mủ đầy ủ bụng. Các bác sĩ phải cắt tử cung nhưng vẫn không cứu được sinh mạng cô gái trẻ. Khi người nhà tức tưởi đi tìm mới hay con mình đang nằm trong nhà xác BV. Anh người yêu và bà mụ vườn sợ quá trốn biệt tăm.

Chủ động các biện pháp ngừa thai hiện đại

Mang thai là một trải nghiệm tuyệt vời chỉ khi người phụ nữ sẵn sàng cho thiên chức làm mẹ. Tuy nhiên, bên cạnh lý do có thai ngoài ý muốn ở trẻ vị thành niên thì nhiều chị em chưa sẵn sàng có con vì còn dở dang việc học, kinh tế khó khăn, công việc chưa ổn định hay không muốn sinh con thứ 3… đã “bất đắc dĩ” phải từ chối những thai nhi ngoài ý muốn. Rõ ràng, nhu cầu ngừa thai ở chị em rất cao nhưng cách ngừa thai bị động, ngại mua thuốc ngừa thai hoặc tránh thai không an toàn theo kiểu truyền thống như: xuất tinh ngoài âm đạo, canh chu kỳ kinh nguyệt… đã khiến mỗi phụ nữ Việt Nam trung bình phải trải qua 2,5 lần phá thai trong suốt độ tuổi sinh đẻ của mình và 20% các ca nạo phá thai rơi vào lứa tuổi vị thành niên. Cứ 1 trong 4 ca phá thai là phá thai không an toàn, chiếm 13% ca tử vong mẹ. Phá thai không an toàn cũng để lại các biến chứng về thể chất và tâm lý tạm thời cũng như lâu dài. Mang thai là một trải nghiệm tuyệt vời chỉ khi người phụ nữ sẵn sàng cho thiên chức làm mẹ

Theo số liệu thống kê của Viện Guttmacher, hơn một nửa số phụ nữ trong độ tuổi sinh sản ở châu Á muốn tránh thai. Tuy nhiên 22% trong số này (tức 141 triệu người vào năm 2014), đang không sử dụng biện pháp ngừa thai hoặc ngừa thai theo các kiểu truyền thống, kém hiệu quả. Đây là những chị em có nhu cầu ngừa thai chưa được đáp ứng, chiếm 77% ca mang thai ngoài ý muốn ở châu Á. Nếu phụ nữ được tiếp cận với các biện pháp ngừa thai hiện đại thì tình trạng mang thai ngoài ý muốn sẽ giảm đến 67%, từ 44 triệu ca xuống còn 15 triệu ca mỗi năm và phá thai không an toàn sẽ giảm 73%, từ 9,7 triệu trường hợp xuống 2,6 triệu trường hợp. “Vì vậy, điều quan trọng là từng chị em trong độ tuổi sinh sản cần chủ động tìm kiếm thông tin đáng tin cậy về các biện pháp ngừa thai hiện có, tư vấn với các bác sĩ, cán bộ y tế để lựa chọn biện pháp tránh thai phù hợp nhất cho mình”, GS. Ngọc Phượng nói rõ.

tranh thai

Ngoài ra, GS.BS. Ngọc Phượng cho rằng: “Các biện pháp ngừa thai hiện đại cho hiệu quả ngừa thai ngoài ý muốn cao, đơn cử các biện pháp phổ biến như: bao cao su nam 86 - 93%, vòng đồng 98 - 99%, thuốc viên tránh thai phối hợp 98 - 99% nếu sử dụng đúng hướng dẫn… Thế nhưng, hiện vẫn còn những hiểu lầm khiến viên thuốc ngừa thai bị “hàm oan”, chẳng hạn như: uống thuốc ngừa thai bị vô sinh, đột quỵ, ung thư… Thực tế ngoài những lợi ích liên quan đến sinh sản như: ngừa thai; giảm có thai ngoài tử cung; thuốc viên tránh thai phối hợp còn đem lại những lợi ích về kinh nguyệt như kinh nguyệt đều, giảm lượng máu mất nên giúp giảm thiếu máu thiếu sắt; giảm 50% nguy cơ ung thư nội mạc tử cung sau 12 chu kì; giảm 40% nguy cơ ung thư biểu mô buồng trứng; giảm 40% nguy cơ ung thư đại trực tràng. Còn nguy cơ mắc cục máu đông khi dùng thuốc ngừa thai là hiếm gặp và thấp hơn nguy cơ ở phụ nữ mang thai hay trong giai đoạn vài tuần sau sinh. Nguy cơ này sẽ thấp khi dùng thuốc liên tục và kéo dài. Chị em cần tầm soát các yếu tố nguy cơ trước khi sử dụng thuốc tránh thai: trên 35 tuổi có kèm hút thuốc lá, béo phì, vừa trải qua đại phẫu, bất động lâu, sau khi sinh con, có tiền căn huyết khối…

“Những quan niệm sai lầm trên dễ khiến nhiều chị em quay về với kiểu ngừa thai truyền thống có hiệu quả không cao so với các biện pháp hiện đại, và do đó dễ xảy ra các trường hợp vỡ kế hoạch phải bỏ thai. Sự tư vấn chính xác và đầy đủ của xã hội (cán bộ y tế, truyền thông...) sẽ giúp phụ nữ có thể tiếp cận được phương pháp tránh thai phù hợp nhất”, GS. Ngọc Phượng nhấn mạnh.

ANH THƯ

Những biến chứng tiềm ẩn khi mang thai & sinh nở

ThS. Lê Khánh Vân

Một số vấn đề và bệnh nghiêm trọng có thể nảy sinh trong khi mang thai và sinh nở. Những biến chứng phổ biến là thai ngoài tử cung, nhiễm trùng do virus herpes, bệnh sởi (rubella), bệnh toxoplasma, tiền sản giật và sản giật, sảy thai và sinh non. Người phụ nữ cũng có thể phải chịu bất kỳ các vấn đề khác ngoài những vấn đề trên khi mang thai, chẳng hạn như buồn nôn vào buổi sáng, bệnh trĩ và chứng sạm da.

Thai ngoài tử cung

Nếu trứng được thụ tinh làm tổ bên ngoài tử cung thì sẽ gây nên chứng mang thai lạc vị, loại mang thai lạc vị phổ biến nhất là mang thai trong vòi trứng. Trừ khi được phát hiện và lấy ra sớm, còn không thì phôi thai sẽ phát triển cho đến khi vòi bị vỡ, gây ra hiện tượng xuất huyết, khiến phụ nữ vô cùng đau đớn và một số trường hợp có thể dẫn đến tử vong. Phụ nữ có thể nhầm lẫn giữa việc mang thai bình thường với mang thai lạc vị, vì ít nhất ở thời kỳ đầu nó cũng có các dấu hiệu bình thường như có sự thay đổi hormon, mất kinh, buồn nôn vào buổi sáng. Mang thai lạc vị có thể tự sảy thai, mặt khác cần phải tiến hành phẫu thuật để lấy thai ra ngay sau khi phát hiện. Hầu hết phụ nữ sau khi mang thai lạc vị vân có thể có con lại bình thường.

Nhiễm trùng do virusherpes

Nhiễm trùng do virus herpes gây ảnh hưởng chủ yếu đến thai nhi hơn là người mẹ. Nó có thể lây truyền qua đường tình dục và lây từ mẹ sang con. Những người lớn bị nhiễm trùng do virus herpes thường không thấy có triệu chứng gì, trong khi đó thai nhi bị lây nhiễm từ mẹ có nguy cơ bị dị dạng cao, chẳng hạn như chậm phát triển, động kinh, liệt não, mù hoặc điếc. Hiện nay, chưa có cách chữa trị hay vaccine phòng chống nhiễm trùng do virus herpes.

Bệnh rubella

Phơi nhiễm virus rubella, hay bệnh sởi Đức, trong thời gian mang thai gây ra các nguy cơ trầm trọng đối với sự phát triển của thai nhi, đặc biệt là ở 3 tháng đầu. Sự thiếu hụt bẩm sinh gây ra bởi bệnh rubella gồm: phát triển trước khi sinh chậm, các dị thường ở nhiễm săc thể mù, điếc, tổn thương não, các tổn thương ở tim. Tiêm chủng khi còn bé sẽ giúp phòng ngừa bệnh rubella và việc tiêm chủng này có tác dụng đến suôt đời. Bất kỳ phụ nữ nào có dự định mang thai nhưng chưa từng bị rubella hay chưa tiêm phòng cần tiêm ngừa trước khi có thai.

Bệnh toxoplasma

Bệnh toxoplasma bắt nguồn từ ký sinh trùng toxoplasma gondii, ký sinh trùng này có trong thịt nấu chưa chín và phân động vật. Mèo là nguồn chính gây nhiễm bệnh toxoplasma cho con

người. Nhưng người bị nhiễm bệnh này thường có ít triệu chứng, trong khi đó thai nhi nhiễm bệnh có thể bị hỏng não, hoặc chêt lưu. Sulfasiazine một loại thuốc nhóm sunfonamide có thể được sử dụng mà không gây hại đến thai nhi, để điều trị bệnh này trước khi sinh hai tháng.

Tiền sản giật và sản giật

Phụ nữ bị tiền sản giật hay “nhiễm độc huyết” sẽ bị tăng huyết áp, giữ nước mạnh và phù khi mang thai. Các triệu chứng của bệnh này thường từ mức độ nhẹ (phù tư chi) đến nặng (co giật và tử vong). Nhiễm độc huyết nặng được gọi là sản giật. Nguyên nhân chính xác gây ra nhiễm độc huyết hiện vẫn chưa được biêt, tuy nhiên dinh dưỡng không đầy đủ có thể là một phần nguyên nhân.

Sảy thai

Sảy thai là sự sảy một cách tự phát của thai nhi không thể sống được (thai không co khả năng sống ở ngoài tử cung) ít hơn 20 tuần tuổi. Vì người phụ nữ có thê nhầm sảy thai với có kinh trước khi biết là mình có thai nên việc xác định số ca sảy thai hàng năm là một việc khó khăn. Tuy nhiên, theo ước tính có khoảng 20% phụ nữ mang thai ở Mỹ bị sảy thai, đa số những trường hợp sảy thai này xuất hiện ở 3 tháng đầu của thai kỳ. Những dị thường ở nhiễm săc thể và mang thai khi tuổi đã cao (trên 35 tuổi) là những nguyên nhân chính dẫn đến việc sảy thai.

Sinh non

Trẻ sinh non chiếm khoảng từ 7- 10% trong số những trẻ em được sinh ra ở Mỹ, trẻ sinh non nặng dưới 2,5kg và được sinh ra khi thai ít hơn 36 tuần tuổi. Mặc dù những nguyên nhân gây ra việc sinh non vẫn chưa được biết, nhưng sinh non có thể liên quan đến chế độ ăn uống thiếu thốn, sử dụng rượu và thuốc khi mang thai, hút thuốc lá thiếu sư chăm sóc trước khi sinh hay có tiền sư sảy thai trước đó. Như đã biết, trẻ sơ sinh càng nhẹ cân càng ít có cơ hôi sống. Trẻ sinh non thường gặp các vấn đề xuất huyết, gặp khó khăn khi thở, bú sữa và tiêu hóa. Những vân đề này thường mất đi khi đứa trẻ tăng cân.

Kiểm tra để phát hiện những bất thường khi mang thai

Một số phương pháp chẩn đoán có thể kiểm tra xem bào thai có khả năng bị các dị tật hay khiếm khuyết nào không. Một trong số những phương pháp phổ biến nhất được sử dụng là chẩn đoán bằng siêu âm. Chẩn đoán bằng siêu âm liên quan đến việc chụp hình chuyển động của bào thai và đặc biệt hữu dụng trong việc chẩn đoán các rối loạn trước khi sinh, theo dõi nhịp tim của thai nhi và biết trước được giới tính của thai. Hiên tại, không có bằng chứng nào chứng minh rằng sóng siêu âm gây hại đến thai nhi hay người mẹ cả. Các kiểm tra bằng việc chọc ối giúp biết xem có sự nhiễm trùng bào thai hay các dị thường về nhiễm sắc thể hay không. Bác sĩ xác định vị trí bào thai bằng phương pháp siêu âm để tránh đâm vào bào thai, rồi sau đó dùng một cái kim rỗng để rút dịch ở túi ối. Phương pháp chọc ối này thường được thực hiện khi thai được khoảng 15 tuần tuổi. Phương pháp này cho phép cha mẹ có đủ thời gian để quyết định xem có giữ thai lại cho đến khi sinh nếu như thai có những khuyết tật nặng hay không. Kết quả kiểm tra bằng phương pháp này thường có trong vòng từ 3-4 tuần. Nguy cơ gây sảy thai do chọc ối ít hơn 1%.

(ThS. Lê Khánh Vân)

Những cách giảm ốm nghén hiệu quả

Nếu bạn ghét bất kỳ loại thức ăn hay thứ mùi nào thì hãy tránh xa. Còn để giảm thiểu cảm giác buồn nôn trong 3 tháng đầu thai nghén, hãy thử áp dụng vài trong số các cách dưới đây:

Bạn đang bị những cơn nghén hành hạ? Hãy thử áp dụng một số cách của chúng tôi 
- Đừng vội rời khỏi giường. Hãy từ từ ngồi dậy và tựa lưng vào đâu đó. Nếu bạn trở dậy nhanh quá và bất ngờ, cảm giác buồn nôn có thể tăng lên.

- Luôn mang theo bên mình các loại snack như bánh biscuit, hoa quả khô... Bạn có thể nhấm nháp chút ít những loại thực phẩm này trên giường trước khi dậy từ 20 - 30 phút.

- Đừng vội bắt tay vào nấu nướng sau khi bạn vừa bị kích thích bởi một thứ mùi nào đó. Hãy nhờ mẹ chồng/mẹ giúp mình trong thời gian này.

- Chia nhỏ các bữa ăn và ăn làm nhiều lần. Hãy nhớ, dạ dày rỗng cũng làm tăng cảm giác buồn nôn. Các thực phẩm giàu protein hay cacbon hydrate giúp chống lại ốm nghén rất hiệu quả.

- Với một số trường hợp, uống bổ sung khoảng 50mg vitamin B5 mỗi ngày là một cách rất tốt. Tuy nhiên, hãy hỏi kỹ bác sĩ trước khi quyết định dùng nhé.

- Nếu bạn đang uống các loại vitamin bổ sung dành cho bà bầu, hãy thử ngừng một thời gian. Nếu tình trạng nghén ngẩm được cải thiện thì hãy tạm nghỉ cho đến khi bạn hết nghén (3 tháng đầu) rồi tiếp tục dùng lại.

- Nếu uống sắt bổ sung khiến hệ tiêu hóa của bạn “khó chịu” thì hãy đi xét nghiệm máu, xem mình có thực sự thiếu máu không. Hoặc bạn có thể lựa chọn các loại tương tự nhưng là dạng viên hoặc gộp chung với các vi chất khác....

- Bạn chỉ ăn những gì bạn cảm thấy hứng thú và thử loại bỏ các loại thực phẩm nhiều chất béo (rán), cay, nóng, chua quá... Đặc biệt hạn chế các thức ăn như các loại nộm, các loại hoa quả dầm... vào những tháng mùa hè.

- Thường xuyên uống nước vào giữa các bữa ăn chứ không phải là trong bữa ăn.

- Ăn nhạt và nên chọn các loại snack như biscuit dòn, sữa chua (giàu vitamin B, giúp giảm nghén) hay bất cứ thứ gì mà bạn thấy thèm.

- Ngửi mùi chanh tươi. Các lát chanh tươi cũng sẽ làm bạn dễ chịu trong giai đoạn nghén ngẩm. Có thể cho vào trà hoặc nước khoáng để uống thường xuyên.

- Uống trà gừng. Gừng có tác dụng ổn định dạ dày và giúp giảm buồn nôn.

 Bà bầu nên dành thời gian thư giãn 
- Dành thời gian thư giãn. Hãy gặp gỡ các bà mẹ tương lai khác để có thêm nhiều kinh nghiệm, chia sẻ, giúp giảm thiểu những lo lắng không đáng có.

- Dậy sớm và đi dạo ngoài sân vườn. Không khí trong lành và luyện tập nhẹ nhàng sẽ giúp cơ thể kiểm soát được tình trạng ốm nghén.

- Nên tập các bài luyện thở. Hãy hít thật sâu và cố gắng loại bỏ khỏi tâm trí cảm giác lợm cổ.

- Luôn duy trì sự bận rộn bằng cách xem tivi, giải ô chữ, chơi cờ, đọc sách, nghe nhạc... vào buổi sáng, đặc biệt là khi cảm giác buồn nôn xuất hiện.

- Thử ăn chuối vào bữa sáng. Chuối rất giàu kali và được biết đến là một trong những vi chất có khả năng “đè bẹp” cảm giác buồn nôn.

- Hãy xức dầu bạc hà vào giấy ăn hay khăn tay và hít hà nó bất kỳ lúc nào. Nó cũng có tác dụng giảm nhẹ cảm giác buồn nôn.

- Trang phục cần rộng rãi, thoáng. Những bộ quần áo bó sát, đặc biệt là ở vùng thắt lưng sẽ làm tình trạng ốm nghén tăng lên.

Theo Nhân Hàdantri.gif

Thừa cân, béo phì khi mang thai và những ảnh hưởng xấu

Các nghiên cứu gián tiếp cho thấy béo phì khi mang thai thường kết hợp với một số biến chứng, và nguy cơ bị biến chứng tăng lên theo mức độ béo phì. Nguyên nhân là do các nội tiết tố thay đổi (tăng nồng độ insulin, androgen và leptin). Thêm vào đó, các mô mỡ là những cơ quan nội tiết chứa các yếu tố tiền viêm (adipokine), các yếu tố này có thể làm rối loạn chức năng của hệ thống biểu mô mạch máu ở người mẹ và rau thai, dẫn đến các biến chứng nặng khi mang thai.

Thế nào là thừa cân, béo phì khi mang thai?

Hầu hết cân nặng của phụ nữ đều tăng khi mang thai do sự phát triển của thai, dịch ối và máu, những cân nặng tăng lên này sẽ bị mất đi khi sinh. Để biết thừa cân hay béo phì, cần phải kiểm tra chỉ số cơ thể (BMI) trước khi mang thai. Nếu BMI từ 25 đến 29,9 trước khi mang thai nghĩa là bạn bị thừa cân. Nếu BMI tăng 3 đơn vị (tương đương 9 kg với người có độ cao trung bình) giữa các lần mang thai thì sẽ tăng đáng kể nguy cơ tiền sản giật, tăng huyết áp, đái tháo đường, sinh khó. Nếu BMI từ 30 trở lên trước khi mang thai thì bạn bị béo phì.

beo phi mang thaiKhi mang thai cần tránh để thừa cân, béo phì.

Và những biến chứng …

Nếu bị thừa cân hoặc béo phì, nhiều khả năng phụ nữ mang thaisẽ gặp các vấn đề y khoa hơn những phụ nữ mang thai có cân nặng bình thường. Càng thừa cân nhiều thì mức độ rủi ro càng cao. Những rủi ro này bao gồm:

Trước khi sinh

Vô sinh/ khó thụ thai: Không thể có thai, khả năng thụ thai khó khăn do kinh nguyệt không đều, quá trình phóng noãn rối loạn (thường liên quan đến hội chứng buồng trứng có vách). Khả năng thụ thai giảm là do tăng nồng độ insulin lên chức năng buồng trứng. Hơn nữa, ở phụ nữ béo phì thì việc điều trị hiếm muộn/ vô sinh cũng gặp khó khăn.

Sẩy thai: Xảy ra khá phổ biến là việc em bé chết trong tử cung trước 20 tuần của thai kỳ. Nguyên nhân chủ yếu là do phụ nữ béo phì thường có hội chứng buồng trứng nhiều vách/ kháng insulin, những thay đổi này dẫn đến biến đổi không tốt ở nội mạch tử cung, làm tăng nguy cơ xảy thai.

Tiểu đường thai kỳ: Đây là bệnh mà một số phụ nữ gặp phải trong thời kỳ mang thai. Nguyên nhân là do tăng khả năng kháng insulin ở người béo phì. Thông thường tình trạng tăng glucose sẽ tự hết sau khi sinh, tuy nhiên, phụ nữ béo phì có đái tháo đường khi mang thai sẽ tăng khả năng mắc đái tháo đường gấp 2 lần so với người bình thường.

Tiền sản giật: Cơ chế mà béo phì làm tăng nguy cơ tiền sản giật chưa thực sự rõ ràng, giả thuyết cho rằng tăng béo phì làm tăng nguy cơ bệnh bim mạch, tăng kháng insulin, tăng mỡ máu, tăng yếu tố viêm.

Nguy cơ sinh non: Trẻ chào đời trước 37 tuần tuổi.

Nguy cơ sinh muộn (kéo dài thời gian mang thai): Mang thai quá tuổi thai.

Sinh nhiều thai: Sinh đôi, sinh ba, do tăng nồng độ hormon FSH.

Nhiễm khuẩn tiết niệu: Thừa cân trước sinh làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu lên 42%.

Sau khi sinh

Phụ nữ mang thai bị béo phì còn dễ bị nhiễm khuẩn sau sinh: như nhiễm khuẩn vết mổ, đường rạch, tử cung; chảy máu sau sinh; tăng nguy cơ tử vong sau sinh so với phụ nữ bình thường ở những người béo phì.

Những nguy cơ đối với thai nhi và khi sinh

Phụ nữ mang thai bị béo phì không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân mà còn ảnh hưởng đến thai nhi và trong quá trình sinh nở. Dị tật bẩm sinh: Xuất hiện ở thai nhi rất cao, do các bà mẹ béo phì dễ mắc đái tháo đường týp 2, bệnh tim mạch. Các rối loạn chuyển hoá do đái tháo đường làm biến đổi môi trường tử cung, dẫn đến những biến đổi gen của phôi thai. Những dị tật bẩm sinh bao gồm cả các khuyết tật ống thần kinh, dị tật bẩm sinh của não và cột sống. Những dị tật này rất khó phát hiện ở phụ nữ béo phì bằng siêu âm.

Thai chết lưu: Khi em bé chết trong tử cung trước khi sinh nhưng sau 20 tuần tuổi của thai kỳ.

Các biến chứng trong quá trình sinh: ở những phụ nữ mang thai bị béo phì, tăng cân nhiều thường thai nhi cũng nặng cân, to so với tuổi thai. Điều này dẫn đến quá trình sinh nở gặp khó khăn nhiều hơn do thai to như đẻ khó do kẹt vai (khi vai thai nhi kẹt phía sau xương mu của mẹ sau khi đã sổ đầu) hay một số biến chứng khác phát sinh trong lúc đau đẻ, cần mổ lấy thai.

Phụ nữ béo phì cần làm gì để sinh con khỏe mạnh?

Chế độ dinh dưỡng: Điều chỉnh dinh dưỡng cho mỗi bữa ăn được hợp lý, phù hợp với độ tuổi, cân nặng,

ThS. Đào Trường Giang